Ô nhiễm biển

Từ Giáo Dục Môi Trường: GIZ-Bạc

Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
   

Cảnh tượng đáng sợ về một vụ tràn dầu

Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các dòng chảy sông suối, các chất thải từ các hoạt động của con người trên biển như khai thác khoáng sản, giao thông vận tải biển.

Ô nhiễm biển là hiện tượng làm biến đổi, xáo trộn các thành phần hoá học của nước biển gây ra do các hoạt động trên biển như vận tải (dầu lan vào nước biển khi các tàu chở dầu bị đắm hoặc các tàu hàng, tàu khách tẩy rửa các thùng nhiên liệu mới...), khai thác dầu lửa (sự rò rỉ dầu từ các dàn khoan, các ống dẫn dầu, các nhà máy lọc dầu...), hoặc do các nguồn ô nhiễm phát sinh từ đất liền (các chất thải phóng xạ độc hại do các nước công nghiệp dùng tàu đổ xuống biển...) ảnh hưởng tới đời sống của các loài sinh vật dưới biển và tác động xấu đến sự tăng trưởng, phát triển của chúng.

Mục lục

Các dạng ô nhiễm biển

  • Gia tăng nồng độ của các chất ô nhiễm trong nước biển như dầu, kim loại nặng, các hoá chất độc hại.
  • Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích biển vùng ven bờ.
  • Suy thoái các hệ sinh thái biển như hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển…
  • Suy giảm trữ lượng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh học biển.
  • Xuất hiện các hiện tượng như thuỷ triều đỏ, tích tụ các chất ô nhiễm trong các thực phẩm lấy từ biển.

Tình trạng ô nhiễm biển

Trên thế giới

Theo báo cáo về các biện pháp ngăn chặn [[[ô nhiễm môi trường]]] biển của chương trình môi trường LHQ (UNEP) được công bố tại Hội nghị quốc tế ở Bắc Kinh (Trung Quốc) gần 90% lượng nước thải từ châu Á được đổ thẳng xuống biển mà không qua xử lí đang gây lo ngại về môi trường, đe dọa sinh thái các vùng bờ biển có tầm quan trọng sống còn đối với hoạt động kinh tế của loài người, đặc biệt là nghề cá. Cùng với chất thải từ các nhà máy lớn đặt tại các vùng bờ biển, vùng biển Nam và Đông Á còn phải tiếp nhận 2/3 khối lượng đất và phù sa, điều này không những gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, nó còn phá hủy các [[[hệ sinh thái]]] ven biển có giá trị lớn về kinh tế, như các vùng [[[rừng ngập mặn]]], các vỉa san hô và những thảm rong biển.

Mặc dù có hơn 60 nước trên thế giới đã có các chương trình hành động quốc gia để ngăn chặn những nguồn ô nhiễm biển xuất phát từ đất liền, song kết quả đạt được không bù đắp nổi những thiệt hại do tình trạng bùng nổ dân số, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa quá nhanh tại các vùng duyên hải. Theo giám đốc điều hành UNEP Achim Steiner, khoảng 80% chất gây ô nhiễm biển có nguồn gốc từ đất liền và chiều hướng này có thể tăng lên đáng kể vào năm 2050 nếu như số dân sống tại vùng duyên hải tăng lên gấp đôi như dự kiến trong vòng 40 năm nữa, và nếu như các nước không đẩy nhanh các chương trình chống ô nhiễm biển.

LHQ kêu gọi các nước nhanh chóng hành động nhằm giảm bớt tình trạng ô nhiễm biển do chất thải từ đất liền gây nên, thông qua sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ và chính quyền các địa phương, giữa các tổ chức tư nhân và tổ chức phi chính phủ, coi việc ngăn chặn ô nhiễm biển như trách nhiệm hàng đầu. Trong 10 năm qua, Chương trình hành động toàn cầu (GPA) do LHQ khởi xướng đã đã góp phần tích cực vào việc thúc đẩy cam kết của các quốc gia trong việc ngăn chặn ô nhiễm biển, huy động được nguồn ngân quỹ lớn vào việc bảo vệ môi trường, trong đó có việc tìm nguồn đầu tư 400 triệu USD để bảo vệ các vùng biển Đông Á, 380 triệu USD cho vùng Địa Trung Hải và 400 triệu USD để bảo vệ vùng Biển Đen và sông Đa-nuýp. Ông An-nan nhấn mạnh việc bảo đảm tính bền vững của môi trường là một trong những trụ cột của cuộc đấu tranh toàn cầu nhằm chống đói nghèo, và là nhân tố thiết yếu để đạt được các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.

Tại Việt Nam

Chủ yếu ở Việt Nam vẫn chưa có hệ thống xử lí nước thải đồng bộ, nên hầu hết nước thải được xả thẳng ra các sông hồ rồi đưa ra biển mà không qua xử lí. Các nguồn ô nhiễm theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sản phẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, chất thải phóng xạ, và nhiều chất ô nhiễm khác. Theo các kết quả khảo sát  gần đây của Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Khánh Hoà, các khu dân cư sống ven biển đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng về môi trường. Mức độ nhiễm bẩn cao nhất là vào lúc thuỷ triều thấp. Nước giếng ở khu vực này bị nhiễm mặn và có "độ cứng" cao do thiếu oxy hoà tan. Ngoài ra, nguồn nước giếng còn bị nhiễm bẩn bởi các vật lơ lửng như chất hữu cơ, nitrit, nitrat, phosphat, hydro cacbon, coliform.

Còn tại vùng biển Phú Yên, tình trạng ô nhiễm biển cũng đang ở mức báo động. Với chiều dài bờ biển khoảng 189km và hàng chục khu dân cư nhưng trong số 18.000 hộ sinh sống ở đây thì chỉ khoảng 10% số hộ có nhà vệ sinh. Từ khi xây dựng cảng Vũng Rô, nơi có mặt nước rộng 1.650ha , tỉnh Phú Yên đã di dân ra vùng tái định cư ở Bãi Ngà. 630 người định cư đã phóng uế bừa bãi, thải nước sinh hoạt ra biển. Tháng 4/2004, khu vực này đã xảy ra tình trạng tôm hùm chết. Vũng Rô hiện có khoảng 700 lồng nuôi thì lồng nào cũng có tôm chết, có ngày có lồng chết đến ba con, mỗi con (10-12 tháng tuổi) nặng khoảng 0,3 kg, tính ra mỗi ngày người nuôi phải chịu mất 1,2 triệu đồng (1kg tôm hùm khoảng 420.000-440.000 đồng). Tình trạng trên 2.500ha nuôi tôm sú cùng hàng chục nghìn lồng nuôi các loài thủy sản khác như tôm hùm, cá mú, ốc hương, ghẹ lột... cũng gây ô nhiễm cho biển, cá mú thì bị bệnh loét da rồi chết... Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi mỗi năm đổ ra biển khoảng 12 tỷ m3 nước với cả các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, chất thải sinh hoạt hoặc các hóa chất độc hại khác trong quá trình khai thác khoáng sản, góp phần làm gia tăng sự ô nhiễm.

Tại Nha Trang, với diện tích khoảng 250km2, dân số hơn 300.000 người. Số lượng dân cư sống ở các khu vực ven biển khá đông song điều kiện về vệ sinh công cộng lại khá kém. Phần lớn các gia đình sống ven biển không có hố xí tự hoại. Rác thải cũng ném bừa thẳng ra biển. Các mực nước ven bờ của các khu đông dân cư thường có độ nhiễm bẩn rất cao. Kết quả khảo sát tại một số khu dân cư tập trung đông là Tây Hải, Cửa Bé và Cồn Giữa đã cho thấy hàm lượng nitơ trong nước biển khá cao. Hàm lượng muối phosphat (yếu tố dinh dưỡng giới hạn trong khu vực nước) rất cao. Hiện tượng nở hoa của tảo gây hại thỉnh thoảng lại được ghi nhận (dù chỉ diễn ra trong một thời gian rất ngắn). Ngoài ra, vịnh Nha Trang cũng chịu áp lực ngày càng tăng của các chất thải qua con sông Cái đổ ra biển. Lưu vực sông Cái có đến nửa triệu dân sinh sống, một phần lớn chất thải sinh hoạt của người dân được đưa trực tiếp vào môi trường nước. Cùng với sự phát triển của xã hội, lượng chất thải ngày càng gia tăng. Nhiều nguồn nước thải sinh hoạt có chứa các yếu tố nhiễm bẩn vượt tiêu chuẩn cho phép. Chẳng hạn, nước thải sinh hoạt tại khu dân cư Cửa Bé có lượng BOD là 156 mg/l, COD 253 mg/l, hydro cacbon 52,15mg/l.

Nguyên nhân

Ô nhiễm biển cũng như tất cả các loại ô nhiễm khác, đều có nguồn gốc từ tự nhiên và nhân tạo. Cũng như tất cả các loại ô nhiễm khác, các nguyên nhân nhân tạo bao giờ cũng gây ra những tác hại to lớn và để lại hậu quả nặng nề. Công ước Luật biển năm 1982[1] đã chỉ ra 5 nguồn gây ô nhiễm biển: các hoạt động trên đất liền, thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy đại dương, thải các chất độc hại ra biển, vận chuyển hàng hoá trên biển và ô nhiễm không khí.

Các nguồn ô nhiễm nhân tạo

Tràn dầu ra biển

Động vật gặp họa vì tràn dầu

Trong tương lai, do khan hiếm nguồn trên lục địa, sản lượng khai thác khoáng sản đáy biển sẽ gia tăng đáng kể. Trong số đó, việc khai thác dầu khí trên biển có tác động mạnh mẽ nhất đến môi trường biển. Hiện tượng rò rỉ dầu từ giàn khoan, các phương tiện vận chuyển và sự cố tràn dầu có xu hướng gia tăng cùng với sản lượng khai thác dầu khí trên biển. Vết dầu loang trên nước ngăn cản quá trình hoà tan oxy từ không khí. Cặn dầu lắng xuống đáy làm ô nhiễm trầm tích đáy biển. Nồng độ dầu cao trong nước có tác động xấu tới hoạt động của các loài sinh vật biển. Các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi Việt Nam đang tăng lên hàng năm. Các vùng có các hoạt động dầu khí là vùng biển Việt Nam, vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan và Quần đảo Trường Sa. Các hoạt động thông thường kèm theo việc khai thác và vận chuyển dầu gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng do dầu.

Ô nhiễm do các hoạt động công nghiệp

Nhiều bãi rác ở ven biển chưa được xử lý làm ô nhiễm vùng biển

Công cuộc công nghiệp hoá được gắn với tình trạng ô nhiễm gia tăng. Ô nhiễm do kim loại nặng thải ra từ các ngành công nghiệp là một mối đe doạ nghiêm trọng đối với sức khoẻ nhân dân và sự an toàn của hệ sinh thái. Các nguồn ô nhiễm từ lục địa theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sản phẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, chất thải phóng xạ và nhiều chất ô nhiễm khác. Hàng năm, các chất thải rắn đổ ra biển trên thế giới khoảng 50 triệu tấn, gồm đất, cát, rác thải, phế liệu xây dựng, chất phóng xạ. Một số chất thải loại này sẽ lắng tại vùng biển ven bờ. Một số chất khác bị phân huỷ và lan truyền trong toàn khối nước biển.

Việt Nam là nước có nền kinh tế nông nghiệp nhưng hoạt động công nghiệp đem lại 20% GDP[2]. Nhịp độ phát triển công nghiệp nhanh, đạt trên 10%. Sự phát triển trong hoạt động công nghiệp đang vượt sự phát triển của cơ sở hạ tầng. Hiện nay, các ngành công nghiệp đều đổ trực tiếp chất thải chưa được xử lý vào môi trường. Kim loại nặng và độc tố là các thành phần đặc trưng của các chất thải công nghiệp. Theo kết quả quan trắc và phân tích môi trường, hàm lượng Cu, PB, Co ở các vùng nước ven biển gần các thị trấn và trung tâm công nghiệp lớn nhiều hơn so với mức tự nhiên của chúng trong nước biển. Đặc biệt, Cu và Zn có hàm lượng cao không thể chấp nhận được. Hg mặc dù chưa đạt tới "mức ô nhiễm", nhưng đang ở mức cho phép. Việt Nam đặt mục tiêu tăng gấp đôi GNP vào năm 2000 và quá trình công nghiệp hoá có tầm quan trọng lớn đối với sự phát triển kinh tế. Quá trình công nghiệp hoá dự kiến sẽ được tập trung ở các vùng thành thị, trong đó có các trung tâm đô thị ven biển lớn của Việt Nam. Các ngành công nghiệp của Việt Nam đều đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển và hiện không có đủ các phương tiện cần thiết để giảm và loại trừ các tác động môi trường do các hoạt động của mình gây ra. Đây là một nguy cơ gây ô nhiễm tiềm tàng, đe doạ hệ sinh thái vùng ven bờ và biển.

Ô nhiễm do đổ chất thải xuống sông, hồ

Rác dày đặc trên sông An Cựu, TP Huế

Sông là nguồn vận chuyển chủ yếu các chất gây ô nhiễm đổ vào biển và đới bờ. Chất thải không được xử lý đang được đổ xuống sông của Việt Nam. Kim loại và nhiều loại thuốc trừ sâu (như DDT) tích luỹ sinh học trong cá và các động vật khác. Tình trạng này có hại sức khoẻ của các động vật này và có thể gây tử vong. Con người khi sử dụng chúng làm thức ăn sẽ chịu ảnh hưởng của sự tích luỹ sinh học này và có nguy cơ gặp rủi ro nguy hại đến sức khoẻ. Hàm lượng dầu cao ở các cửa sông có thể gây thiệt hại nặng nề các nguồn tài nguyên biển và cửa sông như cá, tôm, cua…Nước cống rãnh không được xử lý và các chất gây ô nhiễm từ công nghiệp và nông nghiệp đang đổ vào các sông của Việt Nam. Các con sông này đổ ra biển, làm ô nhiễm môi trường biển và đới bờ. Mặt khác, hoạt động vận tải trên biển là một trong các nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm biển. Rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu của các tàu thuyền trên biển thường chiếm 50% nguồn ô nhiễm dầu trên biển. Các tai nạn đắm tàu thuyền đưa vào biển nhiều hàng hoá, phương tiện và hoá chất độc hại. Các khu vực biển gần với đường giao thông trên biển hoặc các cảng là nơi nước biển có nguy cơ dễ bị ô nhiễm.

Ô nhiễm do sinh hoạt, chất thải đô thị

Ô nước thải sinh họat chưa được xử lý

Loài người đã và đang thải ra biển rất nhiều chất thải độc hại một cách có ý thức và không có ý thức. Loại hoá chất bền vững như DDT[3] có mặt ở khắp các đại dương. Theo tính toán, 2/3 lượng DDT (khoảng 1 triệu tấn) do con người sản xuất, hiện đang còn tồn tại trong nước biển. Một lượng lớn các chất thải phóng xạ của các quốc gia trên thế giới được bí mật đổ ra biển. Riêng Mỹ năm 1961 có 4.087 và 1962 có 6.120 thùng phóng xạ được đổ chôn xuống biển. Công cuộc đô thị hoá nhanh chóng, cơ sở hạ tầng quản lý nước thải yếu kém và tình trạng xả nước thải chưa được xử lý trực tiếp xuống sông và biển đang làm suy thoái chất lượng nước ở các cửa sông, đặc biệt ở vùng ven biển Đồ Sơn (Hải Phòng), Đà Nẵng, Vũng Tàu. Phần lớn nước thải đô thị được thải xuống rãnh hoặc cống lộ thiên, từ đó chảy vào các kênh rồi ra hồ ao, sông hoặc biển. Các bể phốt có chất lượng kém và thường không được tu sửa, dẫn tới việc nước thải chưa được xử lý thải ra môi trường trong các đợt mưa bão. Hệ thống thoát nước khi có bão nói chung không đủ và không phù hợp, gây nước tràn trong các cơn bão, nước cống và rác rưởi lan rộng và đe doạ sức khoẻ của nhân dân. ở những nơi bị ảnh hưởng của thuỷ triều, nước có thể chảy trở lại, giao động hai lần trong một ngày. Vấn đề xử lý nước thải chưa là một ưu tiên so với vấn đề cung cấp nước sạch cho dân cư ở đô thị. Vì vậy, cho tới nay, các cố gắng đều tập trung vào việc cung cấp nước, chứ không phải xử lý nước thải.Tình trạng ô nhiễm biển (trong nước biển và trầm tích đáy) đang gia tăng, là những yếu tố ảnh hưởng xấu trực tiếp đến đa dạng sinh học biển.

Ô nhiễm không khí

Ô nhiễm không khí

Có tác động mạnh mẽ tới ô nhiễm biển. Nồng độ CO2[4] cao trong không khí sẽ làm cho lượng CO2 hoà tan trong nước biển tăng. Nhiều chất độc hại và bụi kim loại nặng được không khí mang ra biển. Sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất do hiệu ứng nhà kính sẽ kéo theo sự dâng cao mực nước biển và thay đổi môi trường sinh thái biển.Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo trên, biển có thể bị ô nhiễm bởi các quá trình tự nhiên như núi lửa phun, tai biến bão lụt, sự cố rò rỉ dầu tự nhiên…

Biện pháp khắc phục

  • Trong khuôn khổ các biện pháp nghiêm ngặt mới nhằm tăng cường an toàn hàng hải, tránh gây ô nhiễm biển, Ủy ban châu Âu (EC) đã đưa ra dự luật trừng phạt nghiêm khắc trong đó có cả hình thức phạt tù đối với chủ các phương tiện vận tải biển gây ô nhiễm đại dương. Theo dự luật này, các nước Liên minh châu Âu (EU) sẽ phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ cũng như người điều khiển phương tiện vận tải biển cố ý hay vô ý để tràn dầu hay các chất gây ô nhiễm khác ra biển ở cảng hay vùng biển thuộc địa phận nước đó, kể cả ở ngoài khơi xa. Các nước EU được quyền kiểm tra giấy chứng nhận về tình trạng tàu có thể đi biển đối với những tàu chở dầu hay hàng hóa nguy hiểm khác. Dự luật này không đưa ra các mức hình phạt cụ thể mà để từng nước thành viên EU tự quyết định.
  • Đề ra nhiều điều luật như: Công ước Luật biển năm 1982, Công ước Marpol 73/78 chống ô nhiễm biển, Công ước quốc tế 1990 về việc sẵn sàng đối phó và hợp tác quốc tế chống ô nhiễm dầu đã thể hiện sự quan tâm của quốc tế đối với vấn đề ô nhiễm biển.

Một số giải pháp hạn chế ô nhiễm biển

Tàu ứng phó sự cố tràn dầu
  • Cần thiết phải có một chiến lược tổng thể lâu dài bảo vệ môi trường biển.
  • Tăng cường nhân lực cho cơ quan Trung Ương
  • Thành lập thêm cơ quan nghiên cứu và cơ sở địa phương để đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường tại chỗ.
  • Tuyển mộ và huấn luyện chuyên gia về chống ô nhiễm biển. Thành lập các khu vực bảo tồn ngoài biển, ven biển, vùng ngập nước.
  • Thiết lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó tai nạn tràn dầu. Tìm tòi nguồn trợ giúp từ nước ngoài nếu tai nạn quá trầm trọng không đủ sức ứng phó.
  • Đưa vào chương trình học đường và giáo dục đại chúng ý thức bảo vệ môi sinh biển. Cần thêm phương tiện truyền thông quảng bá để ý thức đi sâu vào mọi từng lớp dân chúng.
  • Gia nhập các công ước và tổ chức quốc tế liên hệ tới môi sinh biển. Tổ chức cần thiết như IMO... công ước như: Công ước về trách nhiệm dân sự, công ước về nhấn chìm, công ước về sẵn sàng ứng phó, công ước về quy định đền bù thiệt hại môi trường...
  • Ban hành những luật lệ áp dụng cho công nghiệp về chất thải hay biện pháp chống ô nhiễm theo tiêu-chuẩn chung quốc tế. Luật lệ áp dụng cho cá nhân như khói xe, việc dùng chất nổ đánh cá... cũng cần duyệt xét lại.
  • Phối hợp các chương trình môi sinh Rừng, Biển, Bờ. Nhiều biện pháp đã khởi sự tốt cho rừng núi, đồng bằng. Đã đến lúc phải dành nỗ lực thêm cho việc bảo vệ Biển.
  • Kiểm soát việc thi hành. Trang bị các tàu nghiên cứu Hải Dương học.

Xem thêm

Liên kết ngoài

Tham khảo

  1. ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển
  2. GDP
  3. DDT
  4. CO2
Công cụ cá nhân
Không gian tên
Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Công cụ
Hệ thống