Ô nhiễm đất

Từ Giáo Dục Môi Trường: GIZ-Bạc

Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
   

O nhiem dat 1.jpg

Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm

Ô nhiễm đất không những làm giảm khả năng sản xuất của đất mà còn lấy đất làm điểm xuất phát để ảnh hưởng tới thực vật, động vật và người - một số nguyên tố vi lượng hoặc siêu vi lượng có tính độc hại tích luỹ lại trong nông sản phẩm từ đó gây tác hại nghiêm trọng đối với động, thực vật và người.

Ô nhiễm đất còn làm hại đến môi trường khác như nước ngầm, nước mặt, không khí. Ví dụ, một số chất ô nhiễm có tính hoà tan trong nước, thấm xuống nước ngầm, hoặc có thể bị dòng nước di chuyển đi nơi khác tạo nên sự ô nhiễm nước trên mặt đất. Gió thổi có thể chuyển chất ô nhiễm đi xa làm cho diện tích ô nhiễm mở rộng hơn. Bởi vậy, ô nhiễm đất cũng có thể trở thành nguồn ô nhiễm đối với nước và không khí.

Muốn phòng chống ô nhiễm đất cần tìm hiểu nguồn gốc, số lượng, các dạng, sự di chuyển, sự chuyển hoá, sự tích luỹ và tiêu tan của các chất gây ô nhiễm.

Mục lục

Nguồn gây ô nhiễm

Nguồn gây ô nhiễm đất trước hết là từ nước và không khí, ngoài các chất đặc biệt do núi lửa phun ra còn có các chất thải trong công nghiệp và sinh hoạt (hơi thải, nước thải, cặn thải, phân hữu cơ, rác). Tất nhiên, phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, các khoáng sản đang khai thác, các chất phóng xạ... cũng đều là các chất ô nhiễm từ bên ngoài vào đất.

Tưới nước thải công nghiệp làm ô nhiễm đất

Nông dân lấy nước sông Tô Lịch tưới rau

Nông dân dùng nước thải công nghiệp từ các nhà máy ra hoặc nước cống thành phố để tưới cho cây, tuy nước đó có thể làm tăng được một ít năng suất cây trồng nhưng nếu sử dụng không đúng, lâu dài tích luỹ lại có thể gây ô nhiễm đất, làm giảm độ màu mỡ của đất hoặc gây ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng phát triển cây trồng cũng như sức khoẻ của con người và gia súc. Ví dụ, nếu dùng nước của một số nhà máy có chứa muối mặn, chất kiềm hoặc chất axit sẽ làm cho đất dần dần hoá mặn, hoá kiềm hoặc hoá chua từ đó làm giảm khả năng sản xuất của đất. Nghiêm trọng nhất có nhà máy thải ra một số nguyên tố kim loại nặng như: Cd, Ni, Cr...

Các nhà máy hoá chất, các xưởng sản xuất nông dược thải ra Hg, Pb, As. Các chất này sau khi tích luỹ trong đất thì khó loại ra, có thể ảnh hưởng xấu cho cây. Do hoạt động của vi sinh vật, chúng có thể bị tiêu tan dần, nhưng dù chỉ nằm trong đất một thời gian ngắn vẫn gây độc hại.

Những vùng mỏ đang khai thác như mỏ pyrit (FeS2), mỏ than chứa lưu huỳnh (S), sau oxy hoá sẽ sinh ra H2SO4 làm cho môi trường rất chua, ảnh hưởng xấu đến đất. Ðất bị nhiễm lưu huỳnh ban đầu trở nên chua nhiều làm giảm năng suất cây trồng, sau đó còn sinh ra các muối như sunphat sắt, nhôm hoặc mangan, bị các chất hữu cơ trong đất khử oxy tạo thành các hợp chất sunphit lưu lại trong đất tiếp tục gây hại dưới dạng axit hoặc dạng lưu huỳnh.

Một số chất khí thải làm ô nhiễm đất

Thường gặp nhất là SO2 hoặc HF do các nhà máy thải ra. Chất thứ nhất sinh ra axit H2SO4, chất thứ hai sinh ra axit HF. Chúng được nước mưa kéo xuống đất. Chất đầu có thể cho một vùng đất bị chua, chất sau có thể làm cho hàm lượng flo hoà tan trong đất tăng lên có hại cho sức khoẻ của người và gia súc.

Các chất phế thải của công nghiệp làm ô nhiễm đất

Các chất thải của các nhà máy và hầm mỏ thường chứa một số kim loại nặng hoặc một số chất độc dạng hữu cơ và dạng axit, dạng bazơ hoặc các muối khác làm cho đất bị ô nhiễm ở các kiểu khác nhau. Vấn đề này rất phổ biến ở các thành phố và khu công nghiệp lớn.

Nông dược và phân bón làm ô nhiễm đất

Các hợp chất clo hữu cơ trong nông dược dễ tồn lưu lại trong đất, nếu sử dụng liều lượng lớn và liên tục nhiều năm có thể gây ô nhiễm đất. Trong sản xuất phân hoá học, do nguyên liệu không tinh khiết có thể đem lại một số nguyên tố có hại như công nghiệp sản xuất phân lân liên tục với số lượng nhiều sẽ làm cho hàm lượng các nguyên tố Cd, As... tăng lên gây ô nhiễm đất. Nếu dùng phân đạm dạng cyanamit canxi (CaCN2) có thể tồn lưu trong đất gây hại cho cây trồng.

Các chất phóng xạ làm ô nhiễm đất

Các chất phóng xạ tồn tại trong đất thường là K40, Ra87, C14. Hiện nay người ta đã tìm thấy nhiều nguyên tố khác nhập vào đất nhưng trong đó chỉ có Sn90 và Cs137 là hai chất phóng xạ bền vững ở trong đất, chu kỳ bán huỷ của chúng là 28 và 30 năm. Theo tài liệu của Mỹ thì trong đất Mỹ Sn90 và Cs137 có khoảng 150 và 240 milicuri trên 1 cây số vuông Anh. Hàm lượng K40 tự nhiên bình quân khoảng 20000 milicuri.

Nói chung sự ô nhiễm của các chất đó đối với đất chưa nghiêm trọng nhưng nếu có các chất phóng xạ do vũ khí nguyên tử phóng ra thì đất sẽ bị ô nhiễm nặng.

Các chất thải trong sinh hoạt làm ô nhiễm đất

Ở các vùng dân cư đông đúc như các thành phố lớn, có nhiều chất thải sinh hoạt tập trung trong các cống rãnh hoặc các bãi rác chưa được xử lý, trong quá trình phân giải xác hữu cơ có thể sinh ra một số chất làm ô nhiễm đất, nhất là khi nông dân dùng nước bẩn đó để tưới hoặc dùng các loại phân hữu cơ chưa được xử lý đầy đủ.

Tình hình ô nhiễm đất Việt Nam hiện nay

Ô nhiễm đất do sử dụng phân hoá học

Theo báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 1999, ở Việt Nam, 80% phân bón hoá học dành cho lúa, lượng NPK bón còn thấp. Năm 1980 toàn bộ phân bón cả nước qui ra đơn vị dinh dưỡng nguyên chất là 129.000 tấn, đến năm 1998, đỉnh cao của phân hoá học đã dùng (qui ra nguyên chất) là 636.000 tấn.

Nếu tính trên mỗi ha: năm 1970 tổng lượng NPK đã bón 51,3 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O = 1,0: 0,61: 0,24); bình quân năm từ 1976 - 1980 đã bón 36,5 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O = 1,0: 0,36: 0,15); bình quân từ năm 1981 - 1985 đã bón 62,7 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O=1,0: 0,29: 0,07). So với bình quân thế giới vào thời gian ấy là 95,5 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O = 1,0: 0,8: 0,35) thì mức bón và lượng P, K còn rất thấp. Ở trung du và miền núi lại càng thấp.

Năm 1997 đã bón 126,1 kg/ha, xấp xỉ mức trung bình của thế giới, nhưng còn thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Tuy nhiên ở một số vùng thâm canh tăng vụ cao thì lượng phân bón có thể được sử dụng nhiều hơn.

Tuy chưa gây ra những tác động ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhưng việc bón phân vô cơ đơn độc liên tục đã ảnh hưởng đến sự chua hoá ở tầng canh tác. Một số vùng sử dụng đạm nhiều có liên quan với sự tích luỹ NO3- trong nước. Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế, 20% số giếng khoan ở vùng biển có chứa đến 10 mg NO3-/lít nước, 13,8% số giếng khơi ở vùng đồng bằng có chứa hơn 7 mg NO3-/lít nước.

Ô nhiễm đất do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và diệt cỏ

O nhiem dat 3.jpg

Những loại thuốc chính được sử dụng là: thuốc diệt sâu, diệt cỏ, diệt nấm, diệt chuột, diệt giun tròn...

Thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở nước ta trong những năm qua thuộc 4 nhóm chính: clo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbamat và pyrethroid, trong đó thuốc nhóm lân hữu cơ trong những năm gần đây chiếm 60%.

Khối lượng thuốc bảo vệ thực vật ở nước ta sử dụng không nhiều trong vòng 10 năm gần đây, tính bình quân chỉ đạt 0,3 - 0,4 kg hoạt chất /ha/năm. Năm cao nhất cũng chỉ đạt 0,6 - 0,7 kg hoạt chất/ha/năm. Năm 1990 dung 0,2 kg hoạt chất/ha/năm. Tuy nhiên, nếu dùng không đúng vẫn gây ô nhiễm môi trường đất, [[Ô nhiễm nước|nước] và không khí.

Cần rất chú ý vì hiện nay người dân vẫn sử dụng một số loại thuốc mà thế giới đã hạn chế hoặc cấm sử dụng vì rẻ tiền. Việc sử dụng thuốc chưa tuân thủ chặt chẽ qui chế và qui trình sử dụng trong khi đó một số loại thuốc có thể tồn tại trong đất khá lâu.

Ô nhiễm đất do ảnh hưởng của nước thải thành phố, khu công nghiệp

Kết quả nghiên cứu của N.M. Maqsud (1995-1997) về ô nhiễm môi trường vùng nội và ngoại ô thành phố Hồ Chí minh cho thấy: nước và bùn ở kênh, rạch thuộc thành phố đã bị ô nhiễm đến mức rất nặng: nồng độ các kim loại nặng trong nước ô nhiễm của các kênh, rạch này vượt quá ngưỡng cho phép, so với nước kênh, rạch không bị ô nhiễm tăng từ 16 - 700 lần.

Nước thải công nghiệp gây ô nhiễm

Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước kênh, rạch của thành phố Hồ Chí Minh

Kênh, rạch Nồng độ (mg/L)
Cd Cr Cu Pb Zn
Hệ thống Nhiêu Lộc, Thị Nghè 1-3 15-20 12-30 5-140 100-500
Chi Lưu kênh Cầu Bông 7-8 15-18 18-25 7-300 395-650
Các hệ thống Tân Hòa 3-4 20-22 20-72 10-20 150-800
Kênh Doi Tê, Tân hu, Bến Nghé 2-7 12-19 10-180 10-160 200-250
Nhánh kênh U cay 2-6 8-10 8-85 30-350 690-900
Nước kênh, rạch không bị ô nhiễm 0,5 1 3 0,5 10
Tích tụ (tối đa) 16 22 60 700 90

Phương hướng phòng chống ô nhiễm đất

Muốn phòng chống ô nhiễm đất cần tiến hành các mặt sau:

Điều tra và phân tích đất

Triển khai điều tra và phân tích đất bị ô nhiễm. Ðịnh ra tiêu chuẩn đánh giá ô nhiễm. Ðây là một trong những công tác cơ bản đánh giá đất, phòng ngừa phát sinh và phát triển ô nhiễm đất. Ðiều tra ô nhiễm đất là tìm hiểu trạng thái ô nhiễm và đánh giá mức độ ô nhiễm. Hiện nay người ta lấy "trị số cơ bản" làm tiêu chuẩn đánh giá. Căn cứ vào hàm lượng bình quân của hợp chất hoặc nguyên tố độc hại trong đất vượt quá "trị số cơ bản" để đánh giá.

Ðánh giá chất lượng đất là khâu quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường. Cần lấy mẫu đất định kỳ hoặc đặt máy đo tự động ở khu vực đại diện, phân tích các tính chất lý, hoá và sinh học đất để theo dõi động thái biến đổi, quy luật ô nhiễm, từ đó tính toán số lượng tồn lưu chất ô nhiễm trong đất, dự kiến được trạng thái ô nhiễm và xu thế chuyển hoá của chúng và nêu ra biện pháp phòng tránh.

Loại bỏ nguồn gây ô nhiễm

Trong các xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ cần nghiên cứu công nghệ khép kín, không sản xuất hoặc ít sản xuất chất độc. Những chất thải loại cần có cách xử lý thu hồi. Hiện nay, ô nhiễm đất chủ yếu bắt nguồn từ các nhà máy và nước cống thành phố, bởi vậy lúc tưới nước cho cây trồng cần phải cẩn thận. Trước lúc dùng, cần phân tích thành phần độc hại và nồng độ của chúng, nếu không đạt được tiêu chuẩn nước tưới thì phải tìm cách cải tạo hoặc tìm nguồn nước khác.

Cần chọn dùng loại nông dược có hiệu lực cao nhưng ít độc, ít tồn lưu trong đất. Hiện nay còn phải tạm dùng một số nông dược tồn lưu nhiều như chế phẩm kim loại nặng, cần được hạn chế phạm vi sử dụng, lượng dùng và số lần dùng. Một hướng mới hạn chế dùng thuốc gây ô nhiễm là cần mở rộng phương pháp sinh vật phòng trừ kết hợp với phương pháp khác (phòng trừ tổng hợp).

Làm sạch hóa ruộng đồng

Dùng vôi và muối phosphat kiềm để khử chua, chuyển phần lớn nguyên tố kim loại nặng sang hợp chất khó tan từ đó làm giảm nồng độ của chúng trong dung dịch.

Tiêu nước vùng trũng, điều tiết Eh đất làm cho một số nguyên tố kim loại nặng chuyển sang dạng khó tan.

Luân canh lúa màu có thể xúc tiến phân huỷ DDT.

Cải thiện thành phần cơ giới đất, tăng cường bón phân hữu cơ.

Ðối với đất cát cần nâng cao tính đệm và khả năng hấp phụ để hút các cation kim loại và nông dươc, áp dụng biện pháp tổng hợp nâng cao độ màu mỡ của đất, tạo điều kiện cho vi sinh vật hoạt động phân huỷ các nông dược tồn lưu trong đất.

Ðổi đất, lật đất

Khi đất bị ô nhiễm nặng (như Cd) có thể áp dụng biện pháp đổi đất, lật đất. Ưu điểm của cách này là cải tạo triệt để nhưng khó thực hiện trên diện tích rộng.

Thay cây trồng và lợi dụng hấp thu sinh vật

Nếu đất bị ô nhiễm nặng nên thay cây lương thực, cây ăn quả bằng cây hoa, cây cảnh hoặc cây lấy gỗ. Nếu đất trồng cỏ chăn nuôi thì nên thu hoạch vào thời gian hàm lượng chất độc thấp nhất.

Ngoài ra có thể trồng những cây không dùng để ăn mà có khả năng hút mạnh các chất có chứa nguyên tố kim loại nặng. Ví dụ, nếu trồng lúa nước trên đất ô nhiễm 10% Cd phải mất 350 năm mới hút hết Cd, nếu trồng lúa nương (cạn) mất 30 năm, nhưng có loại cây chỉ mất 7 năm là hút hết. Các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng Cúc vạn thọ (Marigold) có khả năng chịu được ô nhiễm Cd, Pb.

Gần đây người ta thấy có thể lợi dụng vi sinh vật để chống ô nhiễm. Ví dụ, các nhà khoa học đã phát hiện được một loài vi khuẩn chuyên ăn dầu mỏ, hễ gặp dầu là ăn ngay và phát triển nhanh chóng. Sau lúc ăn, chúng phân giải dầu mỏ thành CO2H2O làm sạch môi trường.

Phenol là một chất độc hại cho người, một số vi sinh vật có thể phân giải phenol thành CO2 và H2O. Có loài trực khuẩn nha bào có thể biến phenol thành axit axetic để làm thức ăn cho bản thân.

Thực hiện luật môi trường

Nhà nước đã công bố Luật môi trường, phải giáo dục bồi dưỡng cho toàn dân, đặc biệt là các nhà máy sản xuất kinh doanh có kiến thức về môi trường và sinh thái học. Ðối với các cơ sở sản xuất hiện có cần áp dụng các biện pháp tái sử dụng (thu hồi) để giảm ô nhiễm và hạ giá thành, xử lý chất thải, thay đổi quy trình công nghệ. Cần xử lý nghiêm khắc những trường hợp vi phạm Luật môi trường.

Công cụ cá nhân
Không gian tên
Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Công cụ
Hệ thống